CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU – Tài liệu text

Đối với đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, phương pháp

nghiên cứu tài liệu được sử dụng phổ biến và có vị trí vai trò quan trọng

[external_link_head]

trong việc tạo dựng cơ sở lý luận cho một đề tài nghiên cứu.

Đặc trưng của nhóm phương pháp này là người nghiên cứu không có

bất kỳ một sự quan sát trực tiếp nào lên đối tượng nghiên cứu. Song phương

pháp này lại đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có lý thuyết “nền” làm căn cứ xuất

phát như thế giới quan, quan điểm, lập trường tư tưởng để có thái độ tiếp

nhận và cách thức xử lý thông tin phù hợp.

II. Các phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu tài liệu bao gồm tập hợp các phương pháp: phân loại tài

liệu, phân tích tài liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học.

1. Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu

a. Thu thập tài liệu là bước đầu tiên nhà nghiên cứu phải thực hiện khi

bắt tay nghiên cứu một đề tài khoa học. Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu và

xuất phát từ giả thuyết khoa học, nhà nghiên cứu tiến hành xác định nguồn

tài liệu, tìm kiếm và lựa chọn những tài liệu cần thiết nhằm làm sang rõ

những vấn đề lý luận và thực tiễn để chứng minh cho giả thuyết khoa học

của mình.

Về nguyên tắc, tất cả những tài liệu chứa đựng các thông tin liên quan

đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đều phải được thu thập. Song hiện nay,

sự phát triển khoa học cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cách

mạng thông tin diễn ra trên toàn cầu tác động mạnh mẽ tới quy luật tồn tại

và phát triển tài liệu khoa học. Người ta dự đoán cứ sau 10 năm số tài liệu

khoa học lại tăng gấp đôi và tiếp tục gia tăng theo hàm số mũ.

Bên cạnh đó, quy luật về sự tập trung và tản mạnh thông tin cũng tác

động đến sự tồn tại của tài liệu khoa học. Quy luật này hình thành do quá

trình phân lập và tích hợp khoa học. Quá trình phân lập các khoa học dẫn

đến việc hình thành các tài liệu chuyên môn hẹp. Quá trình tích hợp khoa

học lại dẫn đến việc hình thành các tài liệu khoa học liên ngành.

Tính hữu ích của một tài liệu khoa học được xác định bằng giá trị nội

dung, tính thời sự cũng như khả năng tương thích của nó đối với vấn đề

nghiên cứu mà nhà khoa học quan tâm. Đối với một vấn đề nghiên cứu khoa

học xã hội và nhân văn, tính hữu ích của thông tin và giá trị của tài liệu trùng

khớp khi nó tương đồng với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Điều

này phân biệt với việc xem xét gia trị và tính hữu ích của thông tin khoa học

công nghệ và kỹ thuật. Thông thường, tài liệu khoa học xã hội có tuổi thọ

giá trị dài hơn. Chẳng hạn, tài liệu có tuổi thọ hang thế kỷ hoặc xa hơn như

tài liệu lịch sử, tài liệu triết học… Thậm chí, giá trị của tài liệu đó còn được

đo bằng tuổi thọ của nó.

b. Phân loại tài liệu

Phân loại tài liệu được tiến hành sau khi thu thập tài liệu để chuẩn bị

cho quá trình đọc, khai thác nội dung.

Phân loại tài liệu là phương pháp sắp xếp tài liệu khoa học thành hệ

thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa

học có cùng dấu hiệu theo mục đích sử dụng của nhà nghiên cứu.

Các hình thức phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo tên tác

giả, phân loại theo thời gian công bố, hình thức công bố. Ngoài ra còn nhiều

cách phân loại khác, tùy theo mục đích nghiên cứu của đề tài mà nhà nghiên

cứu phân loại cho phù hợp.

READ  Hướng dẫn cách sử dụng OneDrive toàn tập (từ A đến Z) – Blog chia sẻ kiến thức

2. Phân tích và tổng hợp tài liệu

a. Phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề

[external_link offset=1]

bằng cách tách chúng thành từng bộ phận, từng mặt, từng vấn đề để hiểu

chúng một cách sâu sắc, tìm thông tin phục vụ vấn đề nghiên cứu.

Phân tích tài liệu nhằm xác định độ tin cậy, tính khách quan, tính cập

nhật của tài liệu, giới hạn và phạm vi của vấn đề mà tài liệu đề cập đến. Mục

đích của việc phân tích tài liệu là thông qua phân tích hình thức và nội dung

tài liệu, nhà nghiên cứu xác định tính hữu ích của tài liệu và phạm vi có thể

kế thừa nội dung tài liệu đó đối với đề tài họ triển khai. Thông qua việc phân

tích hình thức tài liệu, xác định nguồn tài liệu, tác giả, nơi công bố, hình

thức công bố tài liệu. Trên cơ sở phân tích tài liệu, nhà nghiên cứu xác định

mức độ phải xử lý tài liệu theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình.

Sau khi phân tích các dấu hiệu hình thức, người nghiên cứu tiến hành

phân tích một số tiêu chí cơ bản về nội dung tài liệu. Theo cách này, người

nghiên cứu lập một phiếu phân tích tài liệu đối với mỗi tài liệu hay nhóm tài

liệu cụ thể. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và khung lý thuyết

của đề tài để thiết kế nội dung của mỗi phiếu phân tích tài liệu. Phiếu phân

tích tài liệu xây dựng theo các tiêu chí: chủ đề chính của tài liệu, nội dung cơ

bản, mục đích, phạm vi nghiên cứu cũng như mức độ sử dụng của thông tin

trong tài liệu.

b. Tổng hợp tài liệu

Tổng hợp tài liệu là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận

thông tin từ tài liệu từ các tài liệu thu thập được nhằm tạo ra một cách hiểu

đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu. Tổng hợp tài liệu được thực hiện

trên nhiều tài liệu phong phú về đối tượng. Tổng hợp tài liệu được thực hiện

trên cơ sở kết quả phân tích tài liệu, cho phép nhà nghiên cứu có những

thông tin toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu dựa trên những tài liệu

đã có.

Tổng hợp tài liệu nhằm mục đích xác định tính tương thích của tài liệu

so với mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, lựa chọn tư liệu cần và đủ, sắp

xếp chúng theo tiến trình thời gian hay quan hệ nhân quả.

Phân tích và tổng hợp tài liệu là hai phương pháp có chiều hướng đối

lập nhau song thống nhất biện chứng và bổ trợ cho nhau, giúp nhà nghiên

cứu nắm bắt được thông tin xung quanh vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc

và khái quát.

3. Phương pháp đọc và ghi chép tài liệu

Đọc và ghi chép tài liệu là một công đoạn trong phương pháp nghiên

cứu tài liệu khoa học. Cách thức đọc và ghi chép tài liệu nói lên nhà nghiên

cứu sẽ sử dụng, tiếp thu, ghi nhớ thông tin tài liệu đó như thế nào.

a. Đọc tài liệu

Phương pháp đọc tài liệu gắn liền với hành vi tư duy. Yêu cầu đạt

được khi đọc tài liệu là ghi nhớ được tên tài liệu, nguồn, tác giả tài liệu, nội

dung cơ bản, những dữ kiện được đề cập đến trong tài liệu, khả năng sử

dụng chúng trong giải quyết vấn đề khoa học của nhà nghiên cứu. Đối với

từng tài liệu, căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của từng đề tài cụ thể có thể có

nhiều cách đọc khác nhau.

Đọc thông thường đối với tài liệu không cần thiết phải quá ghi nhớ và

chú ý nhiều.

Đọc nhanh: đọc tài liệu phổ biến thông tin khoa học với tốc độ nhanh,

đồng thời đặt ra yêu cầu ghi nhớ những thông tin căn bản trong tài liệu.

READ  TOP 5 điện thoại dưới 4 triệu tốt nhất 2021 có màn hình lớn, pin trâu

Đọc trượt là kiểu đọc chọn lọc, khi đọc mắt lướt theo toàn bộ nội dung

tài liệu nhưng chỉ chú ý đến những đoạn cần thiết.

Đọc quét cũng là một kiểu đọc chọn lọc. Khi đọc mắt không lướt trên

toàn bộ nội dung tài liệu mà chỉ lướt theo những phần có thể có thông tin ẩn.

Chẳng hạn khi nhà nghiên cứu tìm những số liệu, dữ kiện cần thiết trong các

sách tra cứu.

Đọc sâu đối với những tài liệu chuyên môn phức tạp, yêu cầu nhà

nghiên cứu phải suy nghĩ và phân tích ngay trong quá trình đọc.

Để có thể thu được những thông tin hiệu quả, nhà nghiên cứu còn cần

biết điều chỉnh tốc độ đọc, phương pháp đọc một cách phù hợp. Thông

thường, trình tự đọc một tài liệu là: đọc tổng quát tài liệu nhằm xác định

những phần, những trang phải đọc kỹ; Đọc kỹ những phần đã đánh dấu và

tiến hành ghi chép.

b. Ghi chép tài liệu

Sau khi đọc lướt toàn bộ tài liệu, nhà khoa học tiến hành đọc kỹ và ghi

chép những nội dung tài liệu có ý nghĩa với nhà khoa học và liên qua đến

vấn đề nghiên cứu của mình. Đối với các tài liệu khoa học, có thể tiến hành

ghi chép nội dung tài liệu theo những quy tắc ghi nhớ. Những ghi chép ban

đầu này chính là vật liệu thông tin đầu tiên làm tiền đề cho các nhà khoa học

tiến hành xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu tài liệu. Đó là thực hiện

tóm tắt tài liệu khoa học.

4. Phương pháp thực hiện tóm tắt khoa học

Tóm tắc khoa học thường được thực hiện sau khi nhà nghiên cứu tiến

hành đọc và ghi chép tài liệu.Bản tóm tắt thực hiện trên cơ sở các kết quả

thu được của việc đọc và ghi chép tài liệu.

Mục đích của việc thực hiện tóm tắt khoa học đối với tài liệu là nhằm

loại bỏ những thông tin không cần thiết trong những tài liệu đã thu thập

được, cô đọng và làm bật lên nội dung của tài liệu mà thích ứng và cần thiết

với vấn đề nghiên cứu. Đây cũng là công việc xử lý thông tin cần thiết, tích

lũy tri thức cho nhà nghiên cứu.

Tùy theo nội dung vấn đề nghiên cứu, tùy theo nội dung thông tin

trong từng tài liệu khoa học mà nhà nghiên cứu có thể tiến hành tóm tắt tài

liệu theo từng mức độ khác nhau về độ dài, mức độ chi tiết, có đánh giá, phê

phán hay không, tóm tắt toàn bộ tài liệu hay từng phần tài liệu.

Tóm tắt lược thuật là văn bản do nhà nghiên cứu thực hiện nhằm ghi

chép lại một cách cô đọng, trung thực thông tin về kết quả nghiên cứu của

một hay một nhóm tài liệu đã được phân loại có lien quan trực tiếp đến mục

tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện của một đề tài khoa học.

[external_link offset=2]

Bản lược thuật là văn bản đúc kết một cách cô đọng nội dung của tài

liệu. Trong đó phải nêu bật được nội dung chủ đề của tài liệu, thời gian, bối

cảnh, địa điểm của sự việc, sự kiện, các phương pháp được tác giả tài liệu sử

dụng, những kết luận và triển vọng của vấn đề tác giả tài liệu nêu lên.

Bản lược thuật đạt trình độ khách quan, khoa học, làm căn cứ tin cậy

của đề tài khi được thực hiện theo những tiêu chuẩn sau: vấn đề mà tài liệu

nêu lên phải được lược thuật đầy đủ theo trình tự thời gian, đảm bảo tính lịch

sử, tính logic, tránh lược thuật các vấn đề bằng cách tách rời, cô lập vấn đề

đó khỏi bối cảnh tồn tại của nó. Bản lược thuật tài liệu cần ngắn gọn, súc

tích về nội dung, đảm bảo tính chính xác của các thuật ngữ mà tài liệu trình

READ  Máy phun sương tạo ẩm: Dùng sao tốt cho sức khỏe? • Hello Bacsi

bày.

Tóm tắt tổng thuật là bản trình bày tổng hợp về một hay một số vấn đề

lien quan đến mục tiêu, nhiệm vụ của một đề tài nghiên cứu dựa trên nhiều

tài liệu cùng đề cập đến các vấn đề đó.

Bản tóm tắt tổng thuật cũng cần đạt được những yêu cầu của bản tóm

tắt lược thuật. Đồng thời có sự liên hệ, so sánh, bình luận, phê phán một

cách sơ bộ các thông tin đó. Nhà nghiên cứu có thể đưa ra dự kiến về mục

đích, mức độ và phạm vi tham khảo. Bản tổng thuật tài liệu cần đảm bảo

tính khách quan khoa học của các tài liệu khảo cứu.

Bản tóm tắt lược thuật và tổng thuật tài liệu là căn cứ, dữ liệu khoa

học quan trọng để nhà nghiên cứu thông qua hoạt động tư duy sang tạo của

mình hình thành các ý tưởng nghiên cứu, tìm kiếm luận cứ chứng minh giả

thuyết. Bản tóm tắt lược thuật hay tổng luận tài liệu do người nghiên cứu

thực hiện khác với bản tổng thuật tài liệu do các cơ bản thông tin thực hiện

nhằm mục đích phổ biến thông tin.

Bản tổng thuật tài liệu này cũng khác với tổng luận kết quả nghiên

cứu thực hiện sau khi hoàn thành đề tài, là sản phẩm chính của một đề tài.

Bản tổng hợp vấn đề nghiên cứu đề cập đề cập đến trong phần này chỉ dừng

ở các sản phẩm trung gian trong nghiên cứu một đề tài.

VẤN ĐỀ ÔN TẬP

1. Tài liệu khoa học và vai trò của tài liệu trong nghiên cứu khoa học

2. Yêu cầu của phương pháp thu thập và phân loại tài liệu khoa học.

3. Yêu cầu của phương pháp đọc và ghi chép tài liệu khoa học.

4. Yêu cầu của phương pháp phân tích tài liệu khoa học.

5. Yêu cầu của phương pháp tóm tắt tài liệu khoa học.

6. Thực hành: Thực hiện phân tích một tài liệu khoa học được giao.

7. Thực hành: Thực hiện tóm tắt một công trình khoa học theo yêu

cầu được giao.

8. Thực hành: Thực hiện tóm tắt lược thuật tài liệu khoa học theo chủ

đề được giao.

CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM KHOA HỌC

I. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu thực

nghiệm

1. Khái niệm

Thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng được

thực hiện bởi những quan sát trực tiếp trong điều kiện gây biến đổi cho đối

tượng khảo sát một cách có chủ đích.

Thực chất của phương pháp thực nghiệm là nghiên cứu dựa trên sự

mô phỏng các quá trình hiện thực. Thực nghiệm giúp nhà khoa học chủ động

tạo ra các hoạt động, các biến chuyển giúp nhà nghiên cứu quan sát mô hình

hay môi trường giả định thông qua sự mô phỏng các quá trình diễn ra trong

thực tế.

Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện chủ yếu dựa vào nguyên tắc

xem xét mối quan hệ nhân quả. Yêu cầu chủ yếu của phương pháp này là

nhà nghiên cứu cần nắm chắc và thao túng được nguyên nhân trong một môi

trường có sự kiểm soát.

2. Các điều kiện để sử dụng phương pháp thực nghiệm

Một là, nhà nghiên cứu biết được những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự

nảy sinh và diễn biến của đối tượng nghiên cứu.

Hai là, người nghiên cứu xác định được những nguyên nhân của các

hiện tượng do vạch ra được các điều kiện ảnh hưởng.

Ba là, người nghiên cứu cần và có thể lặp lại nhiều lần thực nghiệm.

3. Các bước tiến hành thực nghiệm

Nhà nghiên cứu cần nắm được tiến trình triển khai phương pháp thực

nghiệm gồm ba giai đoạn cơ bản.

Một là, chuẩn bị thực nghiệm, người nghiên cứu cần xác định mục

đích thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm, thời gian, địa điểm thực nghiệm.

Đồng thời, nhà nghiên cứu chuẩn bị các tiêu chí đo đạc kết quả thực nghiệm.

[external_footer]

Viết một bình luận