Trần Đại Nghĩa – Wikipedia tiếng Việt

Phạm Quang Lễ

(Trần Đại Nghĩa)

Chức vụ

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

[external_link_head]

Nhiệm kỳ 29 tháng 7 năm 1983 – 1988
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Hà Học Trạc

Bộ trưởng, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam

Nhiệm kỳ 6 tháng 4 năm 1977 – 1983
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Nguyễn Văn Hiệu

Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng

Nhiệm kỳ 1974 – 1987

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

Nhiệm kỳ 11 tháng 10 năm 1965 – 28 tháng 2 năm 1977

11 năm, 140 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Duy Trinh
Kế nhiệm Trần Quỳnh

Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước

Nhiệm kỳ 1964 – 1971
Tiền nhiệm Lê Thanh Nghị
Kế nhiệm Đỗ Mười

Cục trưởng Cục Kỹ nghệ Quân giới

Tổng cục Cung cấp

Nhiệm kỳ 7/1950 – 
Phó Cục trưởng Nguyễn Ngọc Xuân

Cục trưởng Cục Pháo binh, Bộ Quốc phòng

Nhiệm kỳ 1949 – 1954
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Lê Thiết Hùng (Tư lệnh Bộ Chỉ huy Pháo binh)

Giám đốc Nha Nghiên cứu Quân giới

Nhiệm kỳ 1947 – 1951
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Nguyễn Trinh Tiếp (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quân giới)

Cục trưởng Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng

[external_link offset=1]

Nhiệm kỳ 1947 – 1954
Tiền nhiệm Vũ Anh
Kế nhiệm Nguyễn Văn Nam

Thông tin chung

Quốc tịch Trần Đại Nghĩa – Wikipedia tiếng Việt Việt Nam
Sinh 13 tháng 9, 1913

Tam Bình, Vĩnh Long, Liên bang Đông Dương
Mất 9 tháng 8, updating tuổi)

Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Dân tộc Kinh
Cha Phạm Quang Mùi
Mẹ Lý Thị Diệu
Học vấn Giáo sư

Binh nghiệp

Thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1946 – 1997
Cấp bậc Thiếu tướng
Chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Kháng chiến chống Pháp
Khen thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh

Huân chương Hồ Chí Minh

Trần Đại Nghĩa (1913 – 1997) là một giáo sư, kỹ sư quân sự, nhà bác học, Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, người đã đặt nền móng xây dựng ngành khoa học kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng Việt Nam.[1]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.[2] Mồ côi cha lúc 6 tuổi, ông được mẹ và chị gái đã tần tảo nuôi dưỡng cho ăn học. Giữa 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây. Nhưng vì nhà nghèo, không có tiền đi Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết định đi làm giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ.[cần dẫn nguồn ]

Sau hai năm làm việc tại các Đại sứ quán Mỹ, ông đã gặp nhà báo Dương Quang Ngưu người đã giúp ông có được một học bổng Chasseloup-Laubat du học tại Paris.[3] Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris (École Polytechnique), Đại học Mỏ (École nationale supérieure des mines de Paris), Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ (École nationale supérieure de l’aéronautique et de l’espace). Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.

Về nước tham gia chính quyền cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Pháp thương thuyết với Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet. Ông cùng với kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước theo Hồ Chủ tịch về nước, tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho quân đội tại núi rừng Việt Bắc. Ngày 5 tháng 12 năm đó, Hồ Chí Minh đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa và trực tiếp giao cho ông làm Cục trưởng Cục Quân giới (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam), năm 1948 phong quân hàm Thiếu tướng [4], Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới[5] (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), Bộ Tổng tư lệnh Quân đội.

Trong quân đội từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1966), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Vào thời đó, quân đội Việt Nam rất thiếu thốn vũ khí, phải dùng vũ khí cảm tử như bom ba càng để đánh xe tăng Pháp. Với kiến thức tích lũy trong 11 năm học tập ở nước ngoài, tháng 11/1946, kỹ sư Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự bắt tay nghiên cứu chế tạo súng và đạn chống tăng Bazooka để bộ đội Việt Nam có vũ khí chống xe tăng và lô cốt Pháp. Sản phẩm hoàn toàn đạt yêu cầu, tương đương tính năng đạn Bazooka của Mỹ. Bazooka Việt Nam bắt đầu chiến đấu vào ngày 2/3/1947, 10 quả đạn và 3 khẩu súng chuyển về Trung đoàn Thủ đô (do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy) đã bắn cháy 2 xe tăng Pháp tại chùa Trầm, Quốc Oai (Hà Nội). Đến tháng 4/1947, súng Bazooka bắt đầu sản xuất hàng loạt gửi đi các chiến trường.

Sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu chế tạo súng không giật (SKZ) cỡ 60mm. Súng SKZ 60 là loại vũ khí công đồn nặng khoảng 26 kg, có thể tháo rời để mang vác, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể xuyên thủng bê tông dày trên 60 cm. SKZ 60 lần đầu lập chiến công phá tan boong ke kiên cố của Pháp trong chiến thắng phố Ràng, phố Lu của Trung đoàn Thủ Đô – Đại đoàn 308 trong Chiến dịch Lê Hồng Phong cuối năm 1949.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc ông được chuyển sang lĩnh vực dân sự giữ chức: Thứ trưởng Bộ Công thương[6], Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng [7], Ủy viên Ủy ban Khoa học Nhà nước [8], Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước[9], Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước[9],[10], Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (1975), Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ updating), Đại biểu Quốc hội khoá II, III.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên năm 1948. Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lao động (tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952).

Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazooka, súng không giật, bom bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp updating. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao, được ứng dụng rộng rãi trong Quân đội nhân dân Việt Nam và là nỗi kinh hoàng của quân đội đối phương. Trong tác phẩm Street Without Joy của Bernard B. Fall ở trang 237 có viết về súng SKZ của ông như sau “…and the feared Viet-Minh SKZ recoilless cannon oppened up at minimum range upon the “soft” vehicles…“.[11]

Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.

Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi.

[external_link offset=2]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Trần Đại Nghĩa trong Nhà trưng bày truyền thống lịch sử – cách mạng Vĩnh Long.

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên ông được đặt cho một con đường tại quận Bình Tân, đi từ Quốc lộ 1 (gần vòng xoay An Lạc) vào khu công nghiệp Lê Minh Xuân.

Cuối tháng 8 năm 2007, tại Hà Nội, tên của ông cũng được đặt cho một con đường nối đường Đại Cồ Việt cắt ngang qua phố Lê Thanh Nghị, đường Đại La đến khu tập thể Thành ủy Hà Nội (đầu sông Sét), song song với phố Tạ Quang Bửu (trên cơ sở đoạn phía bắc của sông Sét đã được cống hóa).

Tại TP Đà Nẵng cũng có con đường mang tên ông nối liền từ Núi Ngũ Hành Sơn (cuối đường Lê Văn Hiến) đến địa phận tỉnh Quảng Nam (đường vào Phố cổ Hội An. Hiện nay (năm 2009) con đường này đang được mở rộng 48m.

Tên Trường đại học và phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2345/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Trần Đại Nghĩa trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự (Vin-hem-Pích) có trụ sở chính tại 189 Nguyễn Oanh, phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.[12]

Ngoài ra tên của ông còn được đặt cho một số trường học trên cả nước, trong đó có Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Trung học phổ thông Trần Đại Nghĩa ở huyện Tam Bình,Trường Trung học phổ thông Trần Đại Nghĩaở huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam,Trường Trung học phổ thông Trần Đại Nghĩa ở Thành phố Cần Thơ…

Tên tàu biển[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 10 năm 2010, công ty đóng tàu Sông Thu – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng hạ thuỷ tàu khảo sát đầu tiên của Việt Nam có ký hiệu HSV-6613 mang tên Trần Đại Nghĩa sau hơn 2 năm đóng theo đặt hàng của Đoàn đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (thuộc Quân chủng Hải quân Việt Nam), chuyên dụng đáp ứng yêu cầu của công tác khảo sát, đo đạc biển.

Khu lưu niệm Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 11 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long tổ chức khởi công xây dựng Khu lưu niệm Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tại ấp Mỹ Phú 1, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Khu lưu niệm được xây dựng trên diện tích khoảng 16.000 m², gồm các hạng mục chính như: Nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, phòng hội thảo, chiếu phim, sinh hoạt truyền thống, quảng trường, các hạn mục phụ trợ và cảnh quan.[13] Có tổng kinh phí là 2,6 đồng và thu nhập hơn 868 tài liệu, tư liệu của Trần Đại Nghĩa.[14] Theo báo cáo của ban quản lý khu lưu niệm, từ sau ngày khánh thành (tức 18 tháng 5 năm 2015) đến nay, khu lưu niệm đã đón 28,377 khách tham quan trong và ngoài tỉnh cùng nhiều khách nước ngoài.[15]

Tên giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 11 năm 2015, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ra Quyết định số 1883/QĐ-VHL về việc Ban hành Quy chế Giải thưởng Trần Đại Nghĩa nhằm tôn vinh tác giả của các công trình nghiên cứu có giá trị khoa học xuất sắc và đã trực tiếp tổ chức triển khai ứng dụng để đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Giải thưởng được trao lần đầu tiên vào năm 2016[16]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tạ Quang Bửu
  • Lê Văn Thiêm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ba nhà khoa học kiệt xuất (Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm), Nguyễn Văn Đạo chủ biên, Nhà xuất bản Lao động, năm 2006.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Đại Nghĩa – Người đặt nền móng công nghiệp quốc phòng Việt Nam Lưu trữ updating tại Wayback Machine
  • Tiểu sử Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (updating
  • Bác dẫn về một chuyên gia vũ khí
  • Trần Đại Nghĩa – nhà bác học, vị tướng, người anh hùng
  • “Ông vua” vũ khí Trần Đại Nghĩa (1)
  • Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa: Nhà khoa học Việt Nam chân chính Lưu trữ updating tại Wayback Machine
  • Cố Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa Lưu trữ updating tại Wayback Machine

[external_footer]

READ  xe ba gác in English – Vietnamese-English Dictionary

Viết một bình luận